Nhà phân phối được uỷ quyền tại Việt Nam: LUBRIZOL Fluid Engineering · LUBCON · FUCHS · CASSIDA · YAMAUCHI
☎ Hotline 0938 664 595 info@hoptien.vn VNEN
Dầu máy nén lạnh · Amoniac (NH₃, R717)

Dầu máy nén lạnh amoniac: sáu điều nhà máy nên đòi ở dầu của mình

Phần lớn nhà máy thuỷ sản, nhà máy bia và kho lạnh ở Việt Nam chạy máy nén trục vít và piston amoniac, và nhiều trong số đó đang dùng dầu CPI do Hợp Tiến cung cấp. Trang này nêu sáu điều kỹ sư vận hành nên đòi ở dầu của hệ mình, kèm số liệu TDS của dầu CPI cho từng điều, quy trình nạp và xả chuẩn, và các hệ đã chuyển đổi. Cuối trang có cách gửi số liệu dầu bù để kỹ sư Hợp Tiến đọc giúp.

Tóm tắt

Hệ lạnh amoniac dùng dầu khoáng naphthenic, dầu khoáng hydrotreated hoặc dầu tổng hợp PAO; không dùng dầu POE như hệ HFC. Gốc dầu chỉ cho biết dầu có dùng được với NH₃ hay không, không cho biết dầu sẽ chạy thế nào: hai dầu cùng gốc, cùng ISO VG 68 vẫn khác nhau về độ bay hơi (lượng dầu bù mỗi tháng), điểm đông đặc thực tế, độ bền oxy hoá, phụ gia và độ ổn định giữa các lô. Hợp Tiến cung cấp dầu CPI của Lubrizol cho hệ amoniac: CPI-1009-68 (khoáng hydrotreated, điểm đông đặc −43 °C, nước dưới 50 ppm) cho dàn bay hơi đến khoảng −35 °C; CPI-4600-68 (PAO, điểm đông đặc −57 °C) cho hệ lạnh hơn (IQF, −40 °C trở xuống) hoặc muốn chu kỳ dài. Kỹ sư chốt mã dầu theo nhiệt độ bay hơi thấp nhất của hệ và điểm đông đặc trong TDS. Hệ đầu tiên trong danh sách cuối trang: bốn máy nén trục vít NH₃ đã chạy 11.400–49.100 giờ ở Đồng Tháp, chuyển đổi trong một đợt bảo dưỡng năm 2016 mà không tháo máy.

2016hệ amoniac đầu tiên trong danh sách dưới đây: 4 máy nén trục vít NH₃ ở Đồng Tháp, chuyển đổi trong một đợt bảo dưỡng
49.100 giờgiờ máy khi chuyển sang dầu CPI (máy nhiều giờ nhất trong bốn máy, dải 11.400–49.100 giờ); không phải tháo máy
−43 °C / −57 °Cđiểm đông đặc theo TDS của CPI-1009-68 (khoáng hydrotreated) và CPI-4600-68 (PAO)

Hợp Tiến là nhà phân phối chính hãng được uỷ quyền của Lubrizol Fluid Engineering (LFE) tại Việt Nam cho dầu CPI (giấy chứng nhận); mỗi lô có CoA theo lô, SDS và nhãn phụ. TDS của hãng (tiếng Anh) gửi tự động qua email; SDS, CoA theo lô gửi trong 24 giờ làm việc. Bảng hệ đã chuyển đổi ở cuối trang ghi các hệ do kỹ sư Hợp Tiến xác nhận số liệu.

Vì sao hệ amoniac kén dầu

Trong hệ HFC, dầu POE hoà tan vào môi chất và đi theo về máy nén. Amoniac thì khác: dầu khoáng và PAO gần như không tan trong NH₃ lỏng, nặng hơn amoniac nên lắng xuống đáy bình chứa, bình tách lỏng, dàn bay hơi. Lượng dầu ấy phải được xả ra bằng tay hoặc bằng bộ hồi dầu; xả không hết thì dàn bay hơi bị "ngập dầu", trao đổi nhiệt kém, máy nén thiếu dầu và người vận hành phải châm bù ngày càng nhiều. Dầu rời máy nén theo hai cách: sương dầu (bình tách dầu giữ được) và hơi dầu (bình tách không giữ được). Phần hơi dầu phụ thuộc vào độ bay hơi của dầu ở nhiệt độ đầu đẩy; đây là lý do hai loại dầu cùng ISO VG 68 có thể chênh nhau vài lần về lượng dầu phải châm bù mỗi tháng. Bài Dầu máy nén amoniac bị cuốn theo môi chất giải thích cơ chế và cách nhà máy tự đo.

Các gốc dầu cho hệ amoniac

Gốc dầuĐặc điểm chung của gốc dầuKhác nhau giữa các sản phẩm cùng gốc
Khoáng naphthenicĐiểm đông đặc thấp tự nhiên, rẻ, quen thuộc với thợ vận hànhMức tinh chế quyết định độ bay hơi và độ bền oxy hoá: hai dầu naphthenic cùng cấp độ nhớt có thể chênh nhau vài lần về dầu bù mỗi tháng; xem số liệu dầu bù và màu dầu xả của chính hệ đang dùng
Khoáng paraffinic hydrotreated (isodewaxed)Bay hơi thấp, bền oxy hoá và nhiệt tốt hơn naphthenic, điểm đông đặc được xử lý xuống khoảng −40 °C; giá hợp lýĐiểm đông đặc thực tế khác nhau tuỳ mức xử lý (isodewaxed hay không): không phải dầu paraffinic nào cũng xả được ở dàn −35 °C; gói phụ gia chống oxy hoá, tách nước khác nhau giữa các hãng
Tổng hợp PAOĐộ bay hơi thấp, điểm đông đặc rất thấp (theo TDS từng mã), chu kỳ dài, ít dầu bùĐộ nhớt ở nhiệt độ thấp, điểm đông đặc và gói phụ gia khác nhau giữa các sản phẩm; giá cao hơn dầu khoáng; kiểm tra gioăng khi đổi từ khoáng; hiếm khi cần cho kho lạnh −20 °C

Đặc điểm nêu theo gốc dầu nói chung, không phải nhận xét về sản phẩm cụ thể nào; số liệu của từng sản phẩm xem TDS của hãng đó. Dầu POE (EMKARATE, SOLEST…) dành cho môi chất HFC/HFO và không dùng với amoniac. Dầu PAG chỉ dùng cho hệ amoniac giãn nở trực tiếp (DX) theo chỉ định của hãng (xem bảng dầu CPI bên dưới). Dầu alkylbenzene và hỗn hợp có ở một số hệ cũ, khi gặp nên hỏi kỹ sư trước khi châm bù.

Dầu CPI cho hệ amoniac: chọn theo kiểu dàn bay hơi và nhiệt độ

Hợp Tiến phân phối dầu CPI cho hệ amoniac. Tài liệu Ammonia Refrigeration Lubricant Solutions của CPI (Lubrizol) chọn dầu theo ba câu hỏi: hệ có phải giãn nở trực tiếp (DX) không; có phải bơm nhiệt không; nhiệt độ bay hơi thấp nhất của hệ là bao nhiêu. Cấp độ nhớt xác nhận theo khuyến nghị của hãng máy nén; kỹ sư Hợp Tiến chốt mã dầu theo nhiệt độ bay hơi thấp nhất của hệ và điểm đông đặc trong TDS.

Kiểu hệDầu CPIGốc dầu
Dàn bay hơi đến khoảng −35 °C (kho lạnh, cấp đông thông thường)CPI-1009-68 (điểm đông đặc −43 °C); CPI-1008-68 theo tư vấn của kỹ sưKhoáng hydrotreated (HTMO), độ bay hơi thấp
Lạnh hơn (IQF, −40 °C trở xuống), hoặc muốn chu kỳ dàiCPI-4600-68 (điểm đông đặc −57 °C); dòng CPI-4628 khi cần thêm bảo vệ phớt (CPI-4628-100, điểm đông đặc −58 °C); nhà máy thực phẩm: CPI-4614-68 F (dòng thực phẩm của CPI)PAO
Hệ giãn nở trực tiếp (DX) amoniacCPI-412-100 DXPAG
Bơm nhiệt amoniacIcematic G 220A / G 220CPAO

Theo tài liệu Ammonia Refrigeration Lubricant Solutions của CPI (NH3_22 0721). Trang sản phẩm hiện có cho CPI-1009-68, CPI-4600-68 và CPI-4628-100; các mã khác kỹ sư Hợp Tiến gửi TDS của hãng theo từng hệ.

Sáu điều nhà máy nên đòi ở dầu của mình

"Cùng là dầu khoáng" hay "cùng ISO VG 68" chỉ nói rằng dầu dùng được với NH₃. Sáu điều dưới đây mới quyết định hệ chạy thế nào và tốn bao nhiêu. Cột "Dầu CPI" ghi số liệu theo TDS của Lubrizol đăng trên trang sản phẩm; chỗ TDS không công bố thì ghi rõ, không suy diễn.

Nên đòi gìVì sao quan trọngDầu CPI (theo TDS)Cách tự kiểm tra
Mức tinh chế của dầu gốc, độ bay hơiPhần hơi dầu qua bình tách ở nhiệt độ đầu đẩy là lượng dầu bù mỗi tháng và dầu đọng ở dàn lạnhCPI-1009-68: dầu khoáng hydrotreated (tinh chế bằng hydro), chỉ số độ nhớt 111. CPI-4600-68: PAO, chỉ số độ nhớt 134. TDS không công bố Noack; so bằng lượng dầu bù thực tế của hệGhi lượng dầu bù và dầu xả từng điểm trong 3 tháng của dầu đang dùng; sau khi đổi so lại cùng cách
Điểm đông đặc thực tếDầu đọng ở dàn −35 °C hay bình chứa thấp áp còn chảy ra van xả hay khôngCPI-1009-68: −43 °C. CPI-4600-68: −57 °C (TDS)Đối chiếu điểm đông đặc trên TDS với nhiệt độ bay hơi thấp nhất của hệ; kỹ sư Hợp Tiến chốt mã dầu theo hai số này
Độ bền oxy hoá và nhiệtTuổi thọ dầu ở nhiệt độ đầu đẩy của máy, cặn trong bình tách, màu và mùi dầu xảCPI-1009-68: điểm chớp cháy 224 °C, chỉ số axit 0,04 mg KOH/g. CPI-4600-68: điểm chớp cháy 276 °C (TDS)Lấy mẫu dầu đang dùng làm mốc; sau khi đổi lấy mẫu ở 500 giờ và định kỳ
Gói phụ gia và tương thíchTách nước, chống gỉ, hành vi với gioăng; hai dầu cùng gốc chưa chắc trộn đượcCPI-1009-68: hàm lượng nước xuất xưởng dưới 50 ppm. CPI-4600 series: PAO trộn được với dầu khoáng theo PDS, vẫn xả sạch khi đổiKhông châm lẫn; đổi thì xả sạch; kiểm tra gioăng nếu hệ đã chạy lâu năm
Độ ổn định giữa các lô và hồ sơKết quả năm nay có lặp lại ở lô năm sau không; TDS, SDS, CoA theo lôMỗi lô Hợp Tiến giao có CoA theo lô, SDS và nhãn phụ (gửi trong 24 giờ làm việc); nhà máy thực phẩm hỏi kỹ sư về dòng CPI-4614 F và hồ sơ đăng ký kèm theoYêu cầu CoA theo lô và giữ số lô trong hồ sơ để đọc được kết quả phân tích dầu
Dịch vụ đi kèmAi đến máy khi đổi, ai đọc kết quả phân tích, hàng có sẵn ở đâu khi cần châm bù gấpKỹ sư Hợp Tiến làm cùng đội bảo trì theo quy trình xả điểm thấp; phân tích dầu định kỳ; tồn kho tại Sóng Thần, TP. Hồ Chí MinhHỏi rõ ba điều này trước khi ký, ghi vào hợp đồng

Vì những điều trên khác nhau nên giá mỗi lít khác nhau. Chi phí thật của dầu trong một năm gồm giá dầu, lượng dầu bù, số lần xả và thay, thời gian dừng máy và công suất dàn lạnh bị mất khi dầu đọng; so giá mỗi lít giữa hai dầu cùng gốc mà không có số liệu dầu bù là so hai thứ không cùng đơn vị.

Đổi dầu không đúng cách gây ra gì

Dầu khác gốc không trộn được và phải xả rửa; rủi ro của hệ amoniac nằm ở cách đổi. Các lỗi dưới đây gặp nhiều khi đổi dầu mà không đo hệ trước.

  • Nạp dầu mới lên nền dầu cũ. Dầu cũ còn trong bình tách, bình chứa, dàn và đường ống lẫn vào dầu mới ngay khi máy chạy: cặn cũ đi sang, hai gói phụ gia gặp nhau, kết quả phân tích dầu sau đó không đọc được và không ai biết dầu mới thực sự chạy ra sao.
  • Không xả hết các điểm thấp. Dầu cũ ở dàn lạnh và bình chứa thấp áp tiếp tục quay lại trong nhiều tháng; lượng dầu bù không giảm và nhà máy kết luận sai về dầu mới.
  • Chọn điểm đông đặc không đủ thấp. Dầu đọng ở dàn −35 °C đặc lại, không xả được; dàn mất diện tích trao đổi nhiệt, buồng đạt nhiệt độ chậm, máy nén cạn dầu.
  • Đổi gốc dầu (khoáng sang PAO hoặc ngược lại) mà không kiểm tra gioăng ở hệ đã chạy nhiều năm: rò rỉ ở phớt và mặt bích sau vài tuần.
  • Không có mốc so sánh. Không ghi lượng dầu bù, dầu xả và mẫu dầu trước khi đổi thì sau này không phân biệt được lỗi của dầu, của cách đổi hay của vận hành.
  • Mất truy vết lô. Châm bù bằng dầu khác lô, khác hãng mà không ghi: khi có sự cố không truy được nguyên nhân và không đòi được trách nhiệm nhà cung cấp.

Dấu hiệu đang dùng dầu chưa phù hợp

  • Lượng dầu châm bù cho máy nén tăng dần theo tháng trong khi lượng dầu xả ở điểm thấp không tăng tương ứng.
  • Dầu xả ở dàn bay hơi đen, đặc, mùi khét; dàn lạnh đóng tuyết không đều, nhiệt độ buồng đạt chậm hơn trước.
  • Nhiệt độ đầu đẩy cao hơn trước ở cùng tải; chênh áp qua bình tách dầu tăng nhanh sau mỗi lần thay lõi.
  • Dầu xả ở dàn lạnh −35 °C rất đặc, khó xả: điểm đông đặc của dầu không đủ thấp cho hệ.

Quy trình nạp dầu và xả chuẩn của Hợp Tiến: đo trước, đổi đúng, kiểm tra sau

Đo trước. Ghi lượng dầu bù mỗi tháng của từng máy nén, lượng dầu xả ở từng điểm thấp, nhiệt độ đầu đẩy và lấy một mẫu dầu đang dùng gửi phân tích; đây là mốc để đánh giá dầu mới bằng số liệu thay vì cảm nhận.

Đổi đúng. Nguyên tắc Hợp Tiến áp dụng cho mọi lần chuyển đổi: không nạp dầu mới lên nền dầu cũ. Trình tự cho từng máy khi dừng: xả dầu cũ khỏi cụm nén và bình tách dầu; tháo bộ lọc dầu, vệ sinh sạch cặn rồi lắp lại; mở lần lượt các van xả ở mọi điểm thấp của bình chứa, bình tách lỏng, dàn bay hơi và đường ống cho đến khi dầu chảy ra trong; sau đó mới bơm dầu mới. Ghi giờ máy, nhiệt độ dầu và chụp dầu xả tại từng điểm để so sánh cho lần bảo dưỡng sau.

An toàn khi xả dầu hệ NH₃. Xả qua bình xả dầu kín hoặc van tiết lưu của máy; người thao tác đeo kính, găng, có nước rửa mắt tại chỗ; không xả ra chậu hở; làm theo quy trình an toàn amoniac của nhà máy.

Kiểm tra sau. Lấy mẫu dầu sau 500 giờ để xác nhận không còn lẫn dầu cũ, so lượng dầu bù và dầu xả với mốc trước khi đổi sau 3 tháng. Toàn bộ trình tự có ảnh trong kết quả thực tế tại nhà máy cá tra Đồng Tháp: bốn máy nén trục vít đã chạy 11.400–49.100 giờ được chuyển đổi trong một đợt bảo dưỡng mà không phải tháo máy.

Trước khi đổi dầu, mỡ. Khác gốc dầu (khoáng/PAO ↔ PAG ↔ POE/ester) hoặc khác chất làm đặc của mỡ thì không nạp chồng: xả hết, thay lọc, súc rửa theo TDS của mã mới; kỹ sư Hợp Tiến xác nhận theo từng máy.

Hệ amoniac đã chuyển sang dầu CPI

Mỗi hàng là một hệ do Hợp Tiến chuyển đổi hoặc cung cấp dầu, ẩn danh theo ngành và tỉnh; số liệu do kỹ sư xác nhận.

Ngành, tỉnhNămMáy nénGiờ máy khi chuyểnDầu trướcDầu CPI
Chế biến thuỷ sản (cá tra), Đồng Tháp Xem bài →20164 máy nén trục vít NH₃ (sản xuất 2007–2014)11.400–49.100 hDầu khoáng khácCPI-1009-68

Câu hỏi thường gặp

Máy nén lạnh amoniac dùng dầu gì?

Dầu khoáng naphthenic, dầu khoáng paraffinic hydrotreated hoặc dầu tổng hợp PAO có độ bay hơi thấp và điểm đông đặc thấp, cấp độ nhớt thường ISO VG 68 (một số máy dùng VG 46 hoặc 100 theo sổ tay). Không dùng dầu POE của hệ HFC.

Vì sao phải xả dầu ở dàn lạnh và bình chứa hệ NH₃?

Vì dầu không tan trong amoniac và nặng hơn nên lắng xuống các điểm thấp; không xả thì dàn bay hơi mất diện tích trao đổi nhiệt và máy nén thiếu dầu. Lượng dầu phải xả và châm bù là thước đo trực tiếp của độ bay hơi và độ tách dầu của loại dầu đang dùng.

Hai dầu cùng là dầu khoáng thì thay cho nhau được không?

Cùng gốc chưa đủ: hai dầu khoáng cùng cấp độ nhớt vẫn khác về độ bay hơi, điểm đông đặc, độ bền oxy hoá và phụ gia, thể hiện ở lượng dầu bù và dầu xả. Đổi được nếu đo hệ trước, xả sạch mọi điểm thấp, không nạp chồng, lấy mẫu 500 giờ.

Đổi dầu máy nén lạnh amoniac có nguy hiểm không?

Rủi ro nằm ở cách đổi: nạp chồng lên dầu cũ, không xả hết điểm thấp, đổi sang dầu khác gốc mà không xả rửa, điểm đông đặc không đủ thấp, đổi gốc dầu mà không kiểm tra gioăng, không có mốc so sánh. Đo trước, đổi đúng, kiểm tra sau thì chỉ là bảo dưỡng bình thường; việc xả dầu làm theo quy trình an toàn amoniac của nhà máy.

Bao lâu thay dầu máy nén lạnh amoniac một lần?

Không theo giờ cố định. Lấy mẫu dầu định kỳ theo sổ tay máy (thường mỗi 2.000–4.000 giờ) đo độ nhớt, chỉ số axit, hàm lượng nước và kim loại mài mòn; thay khi chỉ số vượt ngưỡng hoặc khi dầu xả ở điểm thấp đen và đặc. Dầu hydrotreated và PAO thường giữ được lâu hơn dầu naphthenic ở cùng điều kiện.

Hệ chạy −40 °C (cấp đông IQF, băng chuyền) cần dầu gì?

Dầu khoáng hydrotreated như CPI-1009-68 (điểm đông đặc −43 °C theo TDS) dùng cho dàn bay hơi đến khoảng −35 °C. Hệ −40 °C trở xuống (IQF, băng chuyền) hoặc muốn giảm dầu bù: dùng PAO CPI-4600-68 (điểm đông đặc −57 °C theo TDS). Kỹ sư chốt theo nhiệt độ bay hơi thấp nhất của hệ và điểm đông đặc trong TDS để dầu đọng ở dàn còn xả được.

Hợp Tiến có làm chuyển đổi tại nhà máy không?

Có. Kỹ thuật Hợp Tiến cùng đội bảo trì nhà máy xả dầu, vệ sinh lọc, xả điểm thấp và nạp dầu theo trình tự trên, lập biên bản có ảnh và lịch lấy mẫu; nhà máy nhận TDS của hãng (tiếng Anh), SDS và CoA theo lô cho hồ sơ trong 24 giờ làm việc.

Dầu CPI nào dùng cho hệ amoniac?

Theo tài liệu Ammonia Refrigeration Lubricant Solutions của CPI: CPI-1009-68 (khoáng hydrotreated, điểm đông đặc −43 °C) cho dàn bay hơi đến khoảng −35 °C; CPI-4600-68 (PAO, điểm đông đặc −57 °C) hoặc dòng CPI-4628 cho hệ lạnh hơn (IQF, −40 °C trở xuống) hoặc muốn chu kỳ dài; CPI-4614-68 F (PAO, dòng thực phẩm) cho nhà máy thực phẩm; CPI-412-100 DX (PAG) cho hệ giãn nở trực tiếp. Cấp độ nhớt xác nhận theo khuyến nghị của hãng máy nén; kỹ sư chốt theo nhiệt độ bay hơi thấp nhất của hệ và điểm đông đặc trong TDS.

Gửi số liệu để kỹ sư Hợp Tiến đọc giúp. Lượng dầu bù hằng tháng của từng máy nén, ảnh dầu xả ở các điểm thấp và nhiệt độ bay hơi thấp nhất của hệ; kỹ sư trả lời trong 24 giờ làm việc, nói rõ số liệu dầu bù có bất thường không và nên đo thêm gì. Gửi qua form bên, Zalo 0938 664 595 hoặc info@hoptien.vn.

Nhận "Quy trình chuyển đổi dầu máy nén lạnh amoniac"

Tài liệu 4 trang của Hợp Tiến: trình tự xả, danh sách điểm thấp cần mở, biểu mẫu ghi giờ máy và lịch lấy mẫu. Gửi qua email sau khi điền form.

📄 Quy trình chuyển đổi dầu máy nén lạnh amoniac (PDF, 4 trang)
⚡ Gửi tự động · kỹ sư gọi lại nếu bạn cần tư vấn

Sản phẩm cho hệ amoniac

  • CPI-1009-68
    Khoáng hydrotreated, ISO VG 68, điểm đông đặc −43 °C
  • CPI-4600-68
    PAO, ISO VG 68, điểm đông đặc −57 °C
  • CPI-4628-100
    PAO, ISO VG 100, điểm đông đặc −58 °C, có công nghệ bảo vệ phớt
  • CPI-1008-68 · CPI-4628-68 · CPI-4614-68 F · CPI-412-100 DX
    Kỹ sư gửi TDS của hãng theo từng hệ

Dịch vụ

Nhận tư vấn cho hệ của bạn

Kết quả thực tế và bài đọc liên quan

Gọi ngayBáo giá