Phần lớn nhà máy thuỷ sản, nhà máy bia và kho lạnh ở Việt Nam chạy máy nén trục vít và piston amoniac, và nhiều trong số đó đang dùng dầu CPI do Hợp Tiến cung cấp. Trang này nêu sáu điều kỹ sư vận hành nên đòi ở dầu của hệ mình, kèm số liệu TDS của dầu CPI cho từng điều, quy trình nạp và xả chuẩn, và các hệ đã chuyển đổi. Cuối trang có cách gửi số liệu dầu bù để kỹ sư Hợp Tiến đọc giúp.
Hệ lạnh amoniac dùng dầu khoáng naphthenic, dầu khoáng hydrotreated hoặc dầu tổng hợp PAO; không dùng dầu POE như hệ HFC. Gốc dầu chỉ cho biết dầu có dùng được với NH₃ hay không, không cho biết dầu sẽ chạy thế nào: hai dầu cùng gốc, cùng ISO VG 68 vẫn khác nhau về độ bay hơi (lượng dầu bù mỗi tháng), điểm đông đặc thực tế, độ bền oxy hoá, phụ gia và độ ổn định giữa các lô. Hợp Tiến cung cấp dầu CPI của Lubrizol cho hệ amoniac: CPI-1009-68 (khoáng hydrotreated, điểm đông đặc −43 °C, nước dưới 50 ppm) cho dàn bay hơi đến khoảng −35 °C; CPI-4600-68 (PAO, điểm đông đặc −57 °C) cho hệ lạnh hơn (IQF, −40 °C trở xuống) hoặc muốn chu kỳ dài. Kỹ sư chốt mã dầu theo nhiệt độ bay hơi thấp nhất của hệ và điểm đông đặc trong TDS. Hệ đầu tiên trong danh sách cuối trang: bốn máy nén trục vít NH₃ đã chạy 11.400–49.100 giờ ở Đồng Tháp, chuyển đổi trong một đợt bảo dưỡng năm 2016 mà không tháo máy.
Hợp Tiến là nhà phân phối chính hãng được uỷ quyền của Lubrizol Fluid Engineering (LFE) tại Việt Nam cho dầu CPI (giấy chứng nhận); mỗi lô có CoA theo lô, SDS và nhãn phụ. TDS của hãng (tiếng Anh) gửi tự động qua email; SDS, CoA theo lô gửi trong 24 giờ làm việc. Bảng hệ đã chuyển đổi ở cuối trang ghi các hệ do kỹ sư Hợp Tiến xác nhận số liệu.
Trong hệ HFC, dầu POE hoà tan vào môi chất và đi theo về máy nén. Amoniac thì khác: dầu khoáng và PAO gần như không tan trong NH₃ lỏng, nặng hơn amoniac nên lắng xuống đáy bình chứa, bình tách lỏng, dàn bay hơi. Lượng dầu ấy phải được xả ra bằng tay hoặc bằng bộ hồi dầu; xả không hết thì dàn bay hơi bị "ngập dầu", trao đổi nhiệt kém, máy nén thiếu dầu và người vận hành phải châm bù ngày càng nhiều. Dầu rời máy nén theo hai cách: sương dầu (bình tách dầu giữ được) và hơi dầu (bình tách không giữ được). Phần hơi dầu phụ thuộc vào độ bay hơi của dầu ở nhiệt độ đầu đẩy; đây là lý do hai loại dầu cùng ISO VG 68 có thể chênh nhau vài lần về lượng dầu phải châm bù mỗi tháng. Bài Dầu máy nén amoniac bị cuốn theo môi chất giải thích cơ chế và cách nhà máy tự đo.
| Gốc dầu | Đặc điểm chung của gốc dầu | Khác nhau giữa các sản phẩm cùng gốc |
|---|---|---|
| Khoáng naphthenic | Điểm đông đặc thấp tự nhiên, rẻ, quen thuộc với thợ vận hành | Mức tinh chế quyết định độ bay hơi và độ bền oxy hoá: hai dầu naphthenic cùng cấp độ nhớt có thể chênh nhau vài lần về dầu bù mỗi tháng; xem số liệu dầu bù và màu dầu xả của chính hệ đang dùng |
| Khoáng paraffinic hydrotreated (isodewaxed) | Bay hơi thấp, bền oxy hoá và nhiệt tốt hơn naphthenic, điểm đông đặc được xử lý xuống khoảng −40 °C; giá hợp lý | Điểm đông đặc thực tế khác nhau tuỳ mức xử lý (isodewaxed hay không): không phải dầu paraffinic nào cũng xả được ở dàn −35 °C; gói phụ gia chống oxy hoá, tách nước khác nhau giữa các hãng |
| Tổng hợp PAO | Độ bay hơi thấp, điểm đông đặc rất thấp (theo TDS từng mã), chu kỳ dài, ít dầu bù | Độ nhớt ở nhiệt độ thấp, điểm đông đặc và gói phụ gia khác nhau giữa các sản phẩm; giá cao hơn dầu khoáng; kiểm tra gioăng khi đổi từ khoáng; hiếm khi cần cho kho lạnh −20 °C |
Đặc điểm nêu theo gốc dầu nói chung, không phải nhận xét về sản phẩm cụ thể nào; số liệu của từng sản phẩm xem TDS của hãng đó. Dầu POE (EMKARATE, SOLEST…) dành cho môi chất HFC/HFO và không dùng với amoniac. Dầu PAG chỉ dùng cho hệ amoniac giãn nở trực tiếp (DX) theo chỉ định của hãng (xem bảng dầu CPI bên dưới). Dầu alkylbenzene và hỗn hợp có ở một số hệ cũ, khi gặp nên hỏi kỹ sư trước khi châm bù.
Hợp Tiến phân phối dầu CPI cho hệ amoniac. Tài liệu Ammonia Refrigeration Lubricant Solutions của CPI (Lubrizol) chọn dầu theo ba câu hỏi: hệ có phải giãn nở trực tiếp (DX) không; có phải bơm nhiệt không; nhiệt độ bay hơi thấp nhất của hệ là bao nhiêu. Cấp độ nhớt xác nhận theo khuyến nghị của hãng máy nén; kỹ sư Hợp Tiến chốt mã dầu theo nhiệt độ bay hơi thấp nhất của hệ và điểm đông đặc trong TDS.
| Kiểu hệ | Dầu CPI | Gốc dầu |
|---|---|---|
| Dàn bay hơi đến khoảng −35 °C (kho lạnh, cấp đông thông thường) | CPI-1009-68 (điểm đông đặc −43 °C); CPI-1008-68 theo tư vấn của kỹ sư | Khoáng hydrotreated (HTMO), độ bay hơi thấp |
| Lạnh hơn (IQF, −40 °C trở xuống), hoặc muốn chu kỳ dài | CPI-4600-68 (điểm đông đặc −57 °C); dòng CPI-4628 khi cần thêm bảo vệ phớt (CPI-4628-100, điểm đông đặc −58 °C); nhà máy thực phẩm: CPI-4614-68 F (dòng thực phẩm của CPI) | PAO |
| Hệ giãn nở trực tiếp (DX) amoniac | CPI-412-100 DX | PAG |
| Bơm nhiệt amoniac | Icematic G 220A / G 220C | PAO |
Theo tài liệu Ammonia Refrigeration Lubricant Solutions của CPI (NH3_22 0721). Trang sản phẩm hiện có cho CPI-1009-68, CPI-4600-68 và CPI-4628-100; các mã khác kỹ sư Hợp Tiến gửi TDS của hãng theo từng hệ.
"Cùng là dầu khoáng" hay "cùng ISO VG 68" chỉ nói rằng dầu dùng được với NH₃. Sáu điều dưới đây mới quyết định hệ chạy thế nào và tốn bao nhiêu. Cột "Dầu CPI" ghi số liệu theo TDS của Lubrizol đăng trên trang sản phẩm; chỗ TDS không công bố thì ghi rõ, không suy diễn.
| Nên đòi gì | Vì sao quan trọng | Dầu CPI (theo TDS) | Cách tự kiểm tra |
|---|---|---|---|
| Mức tinh chế của dầu gốc, độ bay hơi | Phần hơi dầu qua bình tách ở nhiệt độ đầu đẩy là lượng dầu bù mỗi tháng và dầu đọng ở dàn lạnh | CPI-1009-68: dầu khoáng hydrotreated (tinh chế bằng hydro), chỉ số độ nhớt 111. CPI-4600-68: PAO, chỉ số độ nhớt 134. TDS không công bố Noack; so bằng lượng dầu bù thực tế của hệ | Ghi lượng dầu bù và dầu xả từng điểm trong 3 tháng của dầu đang dùng; sau khi đổi so lại cùng cách |
| Điểm đông đặc thực tế | Dầu đọng ở dàn −35 °C hay bình chứa thấp áp còn chảy ra van xả hay không | CPI-1009-68: −43 °C. CPI-4600-68: −57 °C (TDS) | Đối chiếu điểm đông đặc trên TDS với nhiệt độ bay hơi thấp nhất của hệ; kỹ sư Hợp Tiến chốt mã dầu theo hai số này |
| Độ bền oxy hoá và nhiệt | Tuổi thọ dầu ở nhiệt độ đầu đẩy của máy, cặn trong bình tách, màu và mùi dầu xả | CPI-1009-68: điểm chớp cháy 224 °C, chỉ số axit 0,04 mg KOH/g. CPI-4600-68: điểm chớp cháy 276 °C (TDS) | Lấy mẫu dầu đang dùng làm mốc; sau khi đổi lấy mẫu ở 500 giờ và định kỳ |
| Gói phụ gia và tương thích | Tách nước, chống gỉ, hành vi với gioăng; hai dầu cùng gốc chưa chắc trộn được | CPI-1009-68: hàm lượng nước xuất xưởng dưới 50 ppm. CPI-4600 series: PAO trộn được với dầu khoáng theo PDS, vẫn xả sạch khi đổi | Không châm lẫn; đổi thì xả sạch; kiểm tra gioăng nếu hệ đã chạy lâu năm |
| Độ ổn định giữa các lô và hồ sơ | Kết quả năm nay có lặp lại ở lô năm sau không; TDS, SDS, CoA theo lô | Mỗi lô Hợp Tiến giao có CoA theo lô, SDS và nhãn phụ (gửi trong 24 giờ làm việc); nhà máy thực phẩm hỏi kỹ sư về dòng CPI-4614 F và hồ sơ đăng ký kèm theo | Yêu cầu CoA theo lô và giữ số lô trong hồ sơ để đọc được kết quả phân tích dầu |
| Dịch vụ đi kèm | Ai đến máy khi đổi, ai đọc kết quả phân tích, hàng có sẵn ở đâu khi cần châm bù gấp | Kỹ sư Hợp Tiến làm cùng đội bảo trì theo quy trình xả điểm thấp; phân tích dầu định kỳ; tồn kho tại Sóng Thần, TP. Hồ Chí Minh | Hỏi rõ ba điều này trước khi ký, ghi vào hợp đồng |
Vì những điều trên khác nhau nên giá mỗi lít khác nhau. Chi phí thật của dầu trong một năm gồm giá dầu, lượng dầu bù, số lần xả và thay, thời gian dừng máy và công suất dàn lạnh bị mất khi dầu đọng; so giá mỗi lít giữa hai dầu cùng gốc mà không có số liệu dầu bù là so hai thứ không cùng đơn vị.
Dầu khác gốc không trộn được và phải xả rửa; rủi ro của hệ amoniac nằm ở cách đổi. Các lỗi dưới đây gặp nhiều khi đổi dầu mà không đo hệ trước.
Đo trước. Ghi lượng dầu bù mỗi tháng của từng máy nén, lượng dầu xả ở từng điểm thấp, nhiệt độ đầu đẩy và lấy một mẫu dầu đang dùng gửi phân tích; đây là mốc để đánh giá dầu mới bằng số liệu thay vì cảm nhận.
Đổi đúng. Nguyên tắc Hợp Tiến áp dụng cho mọi lần chuyển đổi: không nạp dầu mới lên nền dầu cũ. Trình tự cho từng máy khi dừng: xả dầu cũ khỏi cụm nén và bình tách dầu; tháo bộ lọc dầu, vệ sinh sạch cặn rồi lắp lại; mở lần lượt các van xả ở mọi điểm thấp của bình chứa, bình tách lỏng, dàn bay hơi và đường ống cho đến khi dầu chảy ra trong; sau đó mới bơm dầu mới. Ghi giờ máy, nhiệt độ dầu và chụp dầu xả tại từng điểm để so sánh cho lần bảo dưỡng sau.
Kiểm tra sau. Lấy mẫu dầu sau 500 giờ để xác nhận không còn lẫn dầu cũ, so lượng dầu bù và dầu xả với mốc trước khi đổi sau 3 tháng. Toàn bộ trình tự có ảnh trong kết quả thực tế tại nhà máy cá tra Đồng Tháp: bốn máy nén trục vít đã chạy 11.400–49.100 giờ được chuyển đổi trong một đợt bảo dưỡng mà không phải tháo máy.
Mỗi hàng là một hệ do Hợp Tiến chuyển đổi hoặc cung cấp dầu, ẩn danh theo ngành và tỉnh; số liệu do kỹ sư xác nhận.
| Ngành, tỉnh | Năm | Máy nén | Giờ máy khi chuyển | Dầu trước | Dầu CPI |
|---|---|---|---|---|---|
| Chế biến thuỷ sản (cá tra), Đồng Tháp Xem bài → | 2016 | 4 máy nén trục vít NH₃ (sản xuất 2007–2014) | 11.400–49.100 h | Dầu khoáng khác | CPI-1009-68 |
Dầu khoáng naphthenic, dầu khoáng paraffinic hydrotreated hoặc dầu tổng hợp PAO có độ bay hơi thấp và điểm đông đặc thấp, cấp độ nhớt thường ISO VG 68 (một số máy dùng VG 46 hoặc 100 theo sổ tay). Không dùng dầu POE của hệ HFC.
Vì dầu không tan trong amoniac và nặng hơn nên lắng xuống các điểm thấp; không xả thì dàn bay hơi mất diện tích trao đổi nhiệt và máy nén thiếu dầu. Lượng dầu phải xả và châm bù là thước đo trực tiếp của độ bay hơi và độ tách dầu của loại dầu đang dùng.
Cùng gốc chưa đủ: hai dầu khoáng cùng cấp độ nhớt vẫn khác về độ bay hơi, điểm đông đặc, độ bền oxy hoá và phụ gia, thể hiện ở lượng dầu bù và dầu xả. Đổi được nếu đo hệ trước, xả sạch mọi điểm thấp, không nạp chồng, lấy mẫu 500 giờ.
Rủi ro nằm ở cách đổi: nạp chồng lên dầu cũ, không xả hết điểm thấp, đổi sang dầu khác gốc mà không xả rửa, điểm đông đặc không đủ thấp, đổi gốc dầu mà không kiểm tra gioăng, không có mốc so sánh. Đo trước, đổi đúng, kiểm tra sau thì chỉ là bảo dưỡng bình thường; việc xả dầu làm theo quy trình an toàn amoniac của nhà máy.
Không theo giờ cố định. Lấy mẫu dầu định kỳ theo sổ tay máy (thường mỗi 2.000–4.000 giờ) đo độ nhớt, chỉ số axit, hàm lượng nước và kim loại mài mòn; thay khi chỉ số vượt ngưỡng hoặc khi dầu xả ở điểm thấp đen và đặc. Dầu hydrotreated và PAO thường giữ được lâu hơn dầu naphthenic ở cùng điều kiện.
Dầu khoáng hydrotreated như CPI-1009-68 (điểm đông đặc −43 °C theo TDS) dùng cho dàn bay hơi đến khoảng −35 °C. Hệ −40 °C trở xuống (IQF, băng chuyền) hoặc muốn giảm dầu bù: dùng PAO CPI-4600-68 (điểm đông đặc −57 °C theo TDS). Kỹ sư chốt theo nhiệt độ bay hơi thấp nhất của hệ và điểm đông đặc trong TDS để dầu đọng ở dàn còn xả được.
Có. Kỹ thuật Hợp Tiến cùng đội bảo trì nhà máy xả dầu, vệ sinh lọc, xả điểm thấp và nạp dầu theo trình tự trên, lập biên bản có ảnh và lịch lấy mẫu; nhà máy nhận TDS của hãng (tiếng Anh), SDS và CoA theo lô cho hồ sơ trong 24 giờ làm việc.
Theo tài liệu Ammonia Refrigeration Lubricant Solutions của CPI: CPI-1009-68 (khoáng hydrotreated, điểm đông đặc −43 °C) cho dàn bay hơi đến khoảng −35 °C; CPI-4600-68 (PAO, điểm đông đặc −57 °C) hoặc dòng CPI-4628 cho hệ lạnh hơn (IQF, −40 °C trở xuống) hoặc muốn chu kỳ dài; CPI-4614-68 F (PAO, dòng thực phẩm) cho nhà máy thực phẩm; CPI-412-100 DX (PAG) cho hệ giãn nở trực tiếp. Cấp độ nhớt xác nhận theo khuyến nghị của hãng máy nén; kỹ sư chốt theo nhiệt độ bay hơi thấp nhất của hệ và điểm đông đặc trong TDS.
Bốn máy nén trục vít NH₃ đã chạy 11.400–49.100 giờ: xả cụm nén và bình tách, vệ sinh lọc, xả mọi điểm thấp cho đến khi dầu trong rồi mới bơm dầu CPI; làm trong đợt bảo dưỡng, không tháo máy.
Kiến thứcBảy dấu hiệu thường thấy, cơ chế sương dầu và hơi dầu, cách nhà máy tự đo trước khi quyết định.
Kiến thứcĐộ nhớt, TAN, nước, sắt, đồng, silic: mỗi chỉ số nói gì về máy của bạn.