Mục tiêu: nạp dầu máy nén lạnh amoniac CPI-1009-68 vào bốn máy nén trục vít NH₃ đã chạy 11.400–49.100 giờ mà không để dầu cũ lẫn cặn làm bẩn dầu mới. Cách làm: xả cụm nén và bình tách qua van xả dầu của máy, vệ sinh lọc, xả mọi điểm thấp cho đến khi dầu trong rồi mới bơm dầu mới; làm trong đợt bảo dưỡng, không tháo máy.
Xí nghiệp chế biến cá tra xuất khẩu dùng bốn máy nén trục vít amoniac (sản xuất 2007–2014) cho hệ cấp đông và kho lạnh; tại thời điểm chuyển đổi các máy đã chạy 11.400–49.100 giờ, dầu cũ xả ra đen và lẫn cặn. Nhà máy chuyển sang dầu máy nén lạnh amoniac CPI-1009-68, gốc khoáng hydrotreated, điểm đông đặc −43 °C theo TDS; kỹ sư đối chiếu nhiệt độ bay hơi thấp nhất của hệ với điểm đông đặc này trước khi chọn. Yêu cầu là một cách làm không để dầu cũ còn sót trong bình tách, bình chứa, đường ống và lọc làm bẩn ngay mẻ dầu mới, vì trong hệ NH₃ dầu không tan trong môi chất mà đọng lại ở mọi điểm thấp.
Trước khi làm, kỹ sư xác định gốc dầu đang nạp qua tem dầu, sổ tay máy hoặc nhà cung cấp cũ. Giữa các dầu khoáng cho máy nén amoniac không cần dầu chuyển tiếp, nhưng vẫn không nạp chồng: xả hết ở mọi điểm thấp, vệ sinh lọc, nạp dầu mới cùng một lô và ghi số lô vào hồ sơ máy để đối chiếu khi phân tích dầu sau này. Nếu dầu đang dùng khác gốc (PAO hoặc dầu tổng hợp khác) thì súc rửa theo TDS và kiểm tra vật liệu gioăng trước. Không dùng dầu POE (dầu cho môi chất HFC) trong hệ amoniac. Kỹ sư Hợp Tiến xác nhận theo từng máy trước khi đổi.
Kỹ thuật Hợp Tiến cùng đội bảo trì làm theo cùng một trình tự cho từng máy khi dừng: xả dầu cũ khỏi cụm nén và bình tách qua van xả dầu của máy; tháo bầu lọc dầu, vệ sinh sạch cặn rồi lắp lại; mở lần lượt các van xả ở mọi điểm thấp của bình chứa, bình tách và đường ống cho đến khi dầu chảy ra trong; sau đó mới bơm dầu CPI-1009-68 vào máy. Tình trạng dầu xả tại từng điểm được ghi lại để so sánh ở lần bảo dưỡng sau.
Dầu xả từ hệ amoniac có thể còn lẫn NH₃ hoà tan. Trình tự Hợp Tiến áp dụng khi xả dầu hệ NH₃, theo quy trình an toàn amoniac của nhà máy: xả qua bình xả dầu hoặc van xả dầu của máy, mở van từ từ vào thùng chứa kín có nắp, không xả ra chậu hở; người thao tác đeo kính bảo hộ, găng và khẩu trang phù hợp; có sẵn nước rửa mắt tại chỗ; phòng máy thông gió trong suốt thời gian xả; dầu thải thu gom vào phuy có nắp để xử lý theo quy định.
Bốn máy được chuyển đổi trọn vẹn trong đợt bảo dưỡng tháng 10/2016 mà không phải tháo máy. Giờ máy ghi tại thời điểm chuyển đổi là mốc để theo dõi lượng dầu bù và lấy mẫu phân tích ở các lần bảo dưỡng sau. Trình tự này là chuẩn Hợp Tiến áp dụng cho các lần chuyển đổi dầu máy nén lạnh amoniac: không nạp dầu mới lên nền dầu cũ.




Báo cáo chuyển đổi tháng 10/2016. Tên nhà máy và hãng máy nén không nêu theo quy ước của Hợp Tiến.
Mục tiêu: kiểm chứng dầu máy nén khí gốc khoáng hydrocracked CPI-9370-46 ở điều kiện máy nén khí tại Việt Nam (đầu đẩy nóng, phòng máy bụi và ẩm) và dùng phân tích dầu để quyết định chu kỳ thay cho từng máy. Sáu máy ở ba nhà máy được theo dõi; bài này trích ba máy tiêu biểu. Kết quả: các mẫu bình thường giữ độ nhớt 44–50 mm²/s, trong dải ISO VG 46, và TAN dưới 0,5 mg KOH/g đến gần 5.000 giờ; máy 75 kW chạy tiếp đến 7.612 giờ trên một lần nạp khi kết thúc theo dõi (mẫu phân tích cuối ở 4.872 giờ); một ca nước lọt vào dầu được phát hiện sớm qua mẫu định kỳ và xử lý.
Bình Dương (nay thuộc TP.HCM), Bắc Trung Bộ, Đồng Nai · 08/2022 – 07/2023
Mục tiêu: trong một trạm nhiều máy, chọn dầu theo điều kiện và gốc dầu đang nạp của từng máy, và đổi dầu không để cặn cũ đi vào dầu mới. Máy 132 kW chạy nóng (màn hình đọc khoảng 96 °C khi khảo sát) đang dùng dầu gốc PAG của hãng khác, chuyển sang CPI-1522-46 gốc PAG/ester cùng họ; máy 200 kW chạy mát hơn dùng dầu PAO CPI-4601-46. Cả hai đều xả hết, vệ sinh bình tách, thay lõi tách và lọc trước khi nạp; Hợp Tiến khuyến nghị lấy mẫu phân tích sau 500 giờ.
Đồng Nai · 11/2018 – 08/2019
Mục tiêu: làm sạch cặn keo (varnish) trong máy nén khí trục vít 75 kW đã chạy nhiều năm và chuyển sang dầu máy nén khí đăng ký NSF H1 mà không dừng máy dài ngày. Cách làm: chạy dầu làm sạch CPI COMP CLEAN II (không phải dầu H1) trong sản xuất tối đa 500 giờ theo TDS cho cặn tan dần; xả hết, vệ sinh hệ thống và thay lọc theo khuyến nghị; rồi mới nạp dầu H1 CPI-4265-46F và theo dõi bằng phân tích dầu định kỳ theo lịch bảo trì của nhà máy.
Bình Dương (nay thuộc TP.HCM) · 03/2019
Mục tiêu: làm sạch cặn carbon trên xích và ray dẫn của máy căng kim 8 buồng trước khi chuyển sang dầu xích LUBCON TURMOFLUID 40 B, bằng một quy trình lặp lại được cho các máy còn lại: làm sạch cơ học, xịt dầu làm sạch LUBCON TURMOWOODOIL MKP Cleaner ở nhiệt độ làm việc của xích thành nhiều đợt, thổi khí nén, rồi đổi dầu. Kết quả đánh giá bằng quan sát (ảnh trước/sau) và nhận xét của tổ bảo trì.
Đồng Nai · 2017
Mục tiêu: có số liệu trên máy thật trước khi đổi mỡ: mỡ LUBCON giữ được bao lâu trên suốt máy ghép so với mỡ đang dùng, và loại mỡ nào phù hợp cho vòng bi trục chính máy sợi con (tốc độ cọc khoảng 19.500 vòng/phút) và bánh răng hở. Kết quả: trên suốt máy ghép, mỡ LUBCON còn bám sau ít nhất 18 ngày (thời điểm dừng thử) so với khoảng 9 ngày của mỡ đang dùng; bánh răng hở và vòng bi trục chính máy sợi con ổn định sau hai tuần theo quan sát.
Đồng bằng sông Cửu Long · 06/2017