Mục tiêu: có số liệu trên máy thật trước khi đổi mỡ: mỡ LUBCON giữ được bao lâu trên suốt máy ghép so với mỡ đang dùng, và loại mỡ nào phù hợp cho vòng bi trục chính máy sợi con (tốc độ cọc khoảng 19.500 vòng/phút) và bánh răng hở. Kết quả: trên suốt máy ghép, mỡ LUBCON còn bám sau ít nhất 18 ngày (thời điểm dừng thử) so với khoảng 9 ngày của mỡ đang dùng; bánh răng hở và vòng bi trục chính máy sợi con ổn định sau hai tuần theo quan sát.
Nhà máy sợi quy mô hàng chục nghìn cọc ở Đồng bằng sông Cửu Long đang dùng một loại mỡ nhập của hãng khác cho suốt máy ghép với chu kỳ tái bôi trơn hai tuần, nhưng mỡ chỉ giữ được khoảng 9 ngày. Nhà máy muốn có số liệu trên máy thật trước khi đổi: mỡ LUBCON giữ được bao lâu trên suốt máy ghép, và loại mỡ nào phù hợp cho vòng bi trục chính tốc độ cao và bánh răng hở của máy sợi con.
Trong tháng 06/2017, kỹ thuật Hợp Tiến chọn vị trí thử và loại mỡ theo từng máy. Máy ghép sợi (draw frame) của một hãng châu Âu: TURMOGREASE Highspeed L 252 trên một máy và THERMOPLEX 2 TML trên máy thứ hai cùng loại, đối chứng với mỡ đang dùng. Máy sợi con, tốc độ cọc khoảng 19.500 vòng/phút: TURMOPRO Li 1503 cho vòng bi trục chính và vòng bi suốt sắt; GRIZZLYGREASE No. 3 cho bánh răng hở truyền động, vị trí tốc độ thấp và tải cao. Mỗi vị trí được kiểm tra bằng mắt (màu, độ bám, chảy, văng) ở mốc 14 và 18 ngày.
Nguyên tắc khi thử: mỡ khác chất làm đặc với mỡ đang dùng thì tháo rửa mỡ cũ, không bơm chồng; cùng chất làm đặc vẫn đẩy hết mỡ cũ ra trước khi bơm mỡ thử. Kỹ sư Hợp Tiến xác nhận theo từng vị trí trước khi đổi.
Máy ghép: ở mốc 14 ngày, mỡ LUBCON trên suốt không đổi màu, không chảy, còn bám dính tốt trên trục; ở mốc 18 ngày (thời điểm dừng thử) mỡ vẫn còn trên suốt, trong khi mỡ đang dùng chỉ giữ được khoảng 9 ngày. Thời gian giữ thực tế có thể dài hơn 18 ngày nhưng chưa được đo. Đây là cơ sở để nhà máy cân nhắc kéo dài chu kỳ tái bôi trơn. Báo cáo ghi nhận chung cho hai mỡ thử trên suốt máy ghép, không tách riêng từng mã; THERMOPLEX 2 TML là mã Hợp Tiến giới thiệu cho suốt máy ghép trên trang mỡ tốc độ cao.
Máy sợi con: sau hai tuần, GRIZZLYGREASE No. 3 bám dính tốt trên bánh răng hở, ít văng và phủ kín bề mặt răng; TURMOPRO Li 1503 vận hành ổn định trên vòng bi trục chính và vòng bi suốt sắt theo quan sát. Hai vị trí này tốc độ rất khác nhau (cọc sợi khoảng 19.500 vòng/phút; trục bánh răng truyền động chậm hơn nhiều) nên không dùng chung một loại mỡ, và vòng bi trục chính máy sợi con dùng mã khác với mỡ đã thử trên suốt máy ghép.
| Vị trí · máy | Mỡ thử | Mốc kiểm tra | Ghi nhận |
|---|---|---|---|
| Suốt máy ghép (đối chứng) | Mỡ đang dùng của hãng khác | Chu kỳ 2 tuần | Chỉ giữ được khoảng 9 ngày theo ghi nhận của nhà máy |
| Suốt máy ghép, máy thứ nhất | TURMOGREASE Highspeed L 252 | 14 và 18 ngày | Không đổi màu, không chảy, còn bám dính; còn trên suốt ở ngày 18 (dừng thử). Ghi nhận chung với mỡ dưới |
| Suốt máy ghép, máy thứ hai | THERMOPLEX 2 TML | 14 và 18 ngày | Không đổi màu, không chảy, còn bám dính; còn trên suốt ở ngày 18 (dừng thử) |
| Vòng bi trục chính và vòng bi suốt sắt máy sợi con (cọc ~19.500 v/ph) | TURMOPRO Li 1503 (chưa có trang riêng) | 2 tuần | Vận hành ổn định theo quan sát; theo dõi tiếp theo chu kỳ bảo trì của nhà máy |
| Bánh răng hở truyền động máy sợi con (tốc độ thấp) | GRIZZLYGREASE No. 3 | 2 tuần | Bám dính tốt, ít văng, phủ kín bề mặt răng |
Kết quả theo từng mỡ và vị trí thử (đánh giá bằng quan sát; báo cáo không có số đo nhiệt độ vỏ ổ)





Báo cáo thử nghiệm tháng 06/2017; kết quả đánh giá bằng quan sát, khách cần thì Hợp Tiến cung cấp ảnh, biên bản và giải thích chi tiết sau. Tên nhà máy, hãng máy và tên mỡ của hãng khác không nêu theo quy ước của Hợp Tiến.
Mục tiêu: kiểm chứng dầu máy nén khí gốc khoáng hydrocracked CPI-9370-46 ở điều kiện máy nén khí tại Việt Nam (đầu đẩy nóng, phòng máy bụi và ẩm) và dùng phân tích dầu để quyết định chu kỳ thay cho từng máy. Sáu máy ở ba nhà máy được theo dõi; bài này trích ba máy tiêu biểu. Kết quả: các mẫu bình thường giữ độ nhớt 44–50 mm²/s, trong dải ISO VG 46, và TAN dưới 0,5 mg KOH/g đến gần 5.000 giờ; máy 75 kW chạy tiếp đến 7.612 giờ trên một lần nạp khi kết thúc theo dõi (mẫu phân tích cuối ở 4.872 giờ); một ca nước lọt vào dầu được phát hiện sớm qua mẫu định kỳ và xử lý.
Bình Dương (nay thuộc TP.HCM), Bắc Trung Bộ, Đồng Nai · 08/2022 – 07/2023
Mục tiêu: nạp dầu máy nén lạnh amoniac CPI-1009-68 vào bốn máy nén trục vít NH₃ đã chạy 11.400–49.100 giờ mà không để dầu cũ lẫn cặn làm bẩn dầu mới. Cách làm: xả cụm nén và bình tách qua van xả dầu của máy, vệ sinh lọc, xả mọi điểm thấp cho đến khi dầu trong rồi mới bơm dầu mới; làm trong đợt bảo dưỡng, không tháo máy.
Đồng Tháp · 10/2016
Mục tiêu: trong một trạm nhiều máy, chọn dầu theo điều kiện và gốc dầu đang nạp của từng máy, và đổi dầu không để cặn cũ đi vào dầu mới. Máy 132 kW chạy nóng (màn hình đọc khoảng 96 °C khi khảo sát) đang dùng dầu gốc PAG của hãng khác, chuyển sang CPI-1522-46 gốc PAG/ester cùng họ; máy 200 kW chạy mát hơn dùng dầu PAO CPI-4601-46. Cả hai đều xả hết, vệ sinh bình tách, thay lõi tách và lọc trước khi nạp; Hợp Tiến khuyến nghị lấy mẫu phân tích sau 500 giờ.
Đồng Nai · 11/2018 – 08/2019
Mục tiêu: làm sạch cặn keo (varnish) trong máy nén khí trục vít 75 kW đã chạy nhiều năm và chuyển sang dầu máy nén khí đăng ký NSF H1 mà không dừng máy dài ngày. Cách làm: chạy dầu làm sạch CPI COMP CLEAN II (không phải dầu H1) trong sản xuất tối đa 500 giờ theo TDS cho cặn tan dần; xả hết, vệ sinh hệ thống và thay lọc theo khuyến nghị; rồi mới nạp dầu H1 CPI-4265-46F và theo dõi bằng phân tích dầu định kỳ theo lịch bảo trì của nhà máy.
Bình Dương (nay thuộc TP.HCM) · 03/2019
Mục tiêu: làm sạch cặn carbon trên xích và ray dẫn của máy căng kim 8 buồng trước khi chuyển sang dầu xích LUBCON TURMOFLUID 40 B, bằng một quy trình lặp lại được cho các máy còn lại: làm sạch cơ học, xịt dầu làm sạch LUBCON TURMOWOODOIL MKP Cleaner ở nhiệt độ làm việc của xích thành nhiều đợt, thổi khí nén, rồi đổi dầu. Kết quả đánh giá bằng quan sát (ảnh trước/sau) và nhận xét của tổ bảo trì.
Đồng Nai · 2017