Mục tiêu: làm sạch cặn keo (varnish) trong máy nén khí trục vít 75 kW đã chạy nhiều năm và chuyển sang dầu máy nén khí đăng ký NSF H1 mà không dừng máy dài ngày. Cách làm: chạy dầu làm sạch CPI COMP CLEAN II (không phải dầu H1) trong sản xuất tối đa 500 giờ theo TDS cho cặn tan dần; xả hết, vệ sinh hệ thống và thay lọc theo khuyến nghị; rồi mới nạp dầu H1 CPI-4265-46F và theo dõi bằng phân tích dầu định kỳ theo lịch bảo trì của nhà máy.
Máy nén khí trục vít 75 kW của một hãng Mỹ (sản xuất 2011) trong trạm khí nén của một nhà máy thực phẩm ở Bình Dương có cặn keo (varnish) bám ở lọc dầu, lõi tách dầu và đường dầu sau nhiều năm chạy ở nhiệt độ đầu nén cao (khoảng 98 °C đọc tại máy). Nhà máy muốn chuyển máy sang dầu máy nén khí đăng ký NSF H1 và làm sạch hệ thống trước khi nạp, nhưng không thể dừng máy dài ngày.
Nguyên tắc: không nạp dầu mới lên nền cặn cũ. Bước 1, làm sạch: kỹ thuật Hợp Tiến nạp CPI COMP CLEAN II, dầu làm sạch gốc diester dùng được như dầu bôi trơn ngắn hạn, và để máy chạy sản xuất bình thường cho cặn keo tan dần; thời gian chạy tối đa 500 giờ theo TDS. COMP CLEAN II không phải dầu H1, nên đây chỉ là bước làm sạch, không phải dầu vận hành. Bước 2, xả và vệ sinh: xả hết dầu làm sạch ở cụm nén, bình tách và mọi điểm thấp; vệ sinh hệ thống và thay lọc theo khuyến nghị của Hợp Tiến khi đổi loại dầu. Bước 3, nạp dầu H1: bơm CPI-4265-46F và vận hành như bình thường (03/2019); theo dõi chênh áp qua lõi tách dầu trong những tuần đầu.
Trước khi làm, kỹ sư xác định gốc dầu đang nạp qua tem dầu và sổ tay máy. COMP CLEAN II theo TDS tương thích với dầu khoáng và PAO và được dùng để súc rửa khi chuyển sang dầu CPI; máy đang dùng dầu PAG hoặc ester thì hỏi kỹ sư trước. Riêng với dầu H1: dầu không H1 còn sót trong bình tách, lõi tách, bộ làm mát và đường dầu làm mất tư cách H1 của mẻ dầu mới, nên phải xả hết ở mọi điểm thấp, thay lọc dầu và lõi tách dầu, nạp dầu H1 rồi mới đưa khí vào khu vực sản xuất; kiểm tra vật liệu gioăng theo câu ghi trong TDS; lấy mẫu phân tích sau 500 giờ. Kỹ sư Hợp Tiến xác nhận theo từng máy trước khi đổi.
Sau khi nạp dầu H1, máy chạy ở 8,5 bar, khoảng 98 °C (giá trị đọc tại máy), không cảnh báo. Kế hoạch theo dõi: lấy mẫu dầu định kỳ theo lịch bảo trì của nhà máy (độ nhớt, nước, chỉ số axit, kim loại mài mòn) và báo cáo kết quả cho nhà máy sau mỗi lần lấy mẫu, để nhà máy quyết định chu kỳ thay dầu bằng số liệu thay vì theo cảm quan.


Báo cáo thay dầu tháng 03/2019. Bài viết lược bớt chi tiết quy trình; khách cần thì Hợp Tiến cung cấp số liệu và giải thích chi tiết sau. Tên nhà máy và hãng máy không nêu theo quy ước của Hợp Tiến.
Mục tiêu: kiểm chứng dầu máy nén khí gốc khoáng hydrocracked CPI-9370-46 ở điều kiện máy nén khí tại Việt Nam (đầu đẩy nóng, phòng máy bụi và ẩm) và dùng phân tích dầu để quyết định chu kỳ thay cho từng máy. Sáu máy ở ba nhà máy được theo dõi; bài này trích ba máy tiêu biểu. Kết quả: các mẫu bình thường giữ độ nhớt 44–50 mm²/s, trong dải ISO VG 46, và TAN dưới 0,5 mg KOH/g đến gần 5.000 giờ; máy 75 kW chạy tiếp đến 7.612 giờ trên một lần nạp khi kết thúc theo dõi (mẫu phân tích cuối ở 4.872 giờ); một ca nước lọt vào dầu được phát hiện sớm qua mẫu định kỳ và xử lý.
Bình Dương (nay thuộc TP.HCM), Bắc Trung Bộ, Đồng Nai · 08/2022 – 07/2023
Mục tiêu: nạp dầu máy nén lạnh amoniac CPI-1009-68 vào bốn máy nén trục vít NH₃ đã chạy 11.400–49.100 giờ mà không để dầu cũ lẫn cặn làm bẩn dầu mới. Cách làm: xả cụm nén và bình tách qua van xả dầu của máy, vệ sinh lọc, xả mọi điểm thấp cho đến khi dầu trong rồi mới bơm dầu mới; làm trong đợt bảo dưỡng, không tháo máy.
Đồng Tháp · 10/2016
Mục tiêu: trong một trạm nhiều máy, chọn dầu theo điều kiện và gốc dầu đang nạp của từng máy, và đổi dầu không để cặn cũ đi vào dầu mới. Máy 132 kW chạy nóng (màn hình đọc khoảng 96 °C khi khảo sát) đang dùng dầu gốc PAG của hãng khác, chuyển sang CPI-1522-46 gốc PAG/ester cùng họ; máy 200 kW chạy mát hơn dùng dầu PAO CPI-4601-46. Cả hai đều xả hết, vệ sinh bình tách, thay lõi tách và lọc trước khi nạp; Hợp Tiến khuyến nghị lấy mẫu phân tích sau 500 giờ.
Đồng Nai · 11/2018 – 08/2019
Mục tiêu: làm sạch cặn carbon trên xích và ray dẫn của máy căng kim 8 buồng trước khi chuyển sang dầu xích LUBCON TURMOFLUID 40 B, bằng một quy trình lặp lại được cho các máy còn lại: làm sạch cơ học, xịt dầu làm sạch LUBCON TURMOWOODOIL MKP Cleaner ở nhiệt độ làm việc của xích thành nhiều đợt, thổi khí nén, rồi đổi dầu. Kết quả đánh giá bằng quan sát (ảnh trước/sau) và nhận xét của tổ bảo trì.
Đồng Nai · 2017
Mục tiêu: có số liệu trên máy thật trước khi đổi mỡ: mỡ LUBCON giữ được bao lâu trên suốt máy ghép so với mỡ đang dùng, và loại mỡ nào phù hợp cho vòng bi trục chính máy sợi con (tốc độ cọc khoảng 19.500 vòng/phút) và bánh răng hở. Kết quả: trên suốt máy ghép, mỡ LUBCON còn bám sau ít nhất 18 ngày (thời điểm dừng thử) so với khoảng 9 ngày của mỡ đang dùng; bánh răng hở và vòng bi trục chính máy sợi con ổn định sau hai tuần theo quan sát.
Đồng bằng sông Cửu Long · 06/2017