Mục tiêu: kiểm chứng dầu máy nén khí gốc khoáng hydrocracked CPI-9370-46 ở điều kiện máy nén khí tại Việt Nam (đầu đẩy nóng, phòng máy bụi và ẩm) và dùng phân tích dầu để quyết định chu kỳ thay cho từng máy. Sáu máy ở ba nhà máy được theo dõi; bài này trích ba máy tiêu biểu. Kết quả: các mẫu bình thường giữ độ nhớt 44–50 mm²/s, trong dải ISO VG 46, và TAN dưới 0,5 mg KOH/g đến gần 5.000 giờ; máy 75 kW chạy tiếp đến 7.612 giờ trên một lần nạp khi kết thúc theo dõi (mẫu phân tích cuối ở 4.872 giờ); một ca nước lọt vào dầu được phát hiện sớm qua mẫu định kỳ và xử lý.
Trước khi đưa CPI-9370-46 (dầu máy nén khí gốc khoáng hydrocracked, không lưu huỳnh) vào danh mục, Hợp Tiến cùng LUBRIZOL cần hai câu trả lời bằng số liệu trên máy thật ở Việt Nam: dầu giữ được độ nhớt và chỉ số axit trong bao lâu khi nhiệt độ đầu đẩy cao (ghi nhận 75–98 °C tại các lần lấy mẫu), phòng máy bụi và ẩm; và phân tích dầu định kỳ có đủ nhạy để quyết định chu kỳ thay cho từng máy hay không. Sáu máy nén trục vít ngập dầu 22–75 kW ở ba nhà máy (ống nhựa tại Bình Dương, xi măng ở Bắc Trung Bộ, dệt tại Đồng Nai) được theo dõi trong một năm; bài này trích ba máy tiêu biểu, số liệu các máy còn lại cung cấp khi khách yêu cầu.
Trước khi nạp, kỹ sư Hợp Tiến xác định gốc dầu đang dùng của từng máy qua tem dầu và sổ tay máy. Nguyên tắc áp dụng: khác gốc dầu (khoáng/PAO so với PAG hoặc ester) thì không nạp chồng mà súc rửa theo TDS; cùng gốc dầu vẫn xả hết dầu cũ ở mọi điểm thấp, thay lọc dầu, lọc gió và lõi tách dầu, kiểm tra vật liệu gioăng theo câu ghi trong TDS, rồi mới nạp CPI-9370-46 và ghi giờ máy tại thời điểm bắt đầu.
Sau đó lấy mẫu dầu theo lịch dừng máy của từng nhà máy, ghi nhiệt độ và áp suất đầu đẩy lúc lấy mẫu; phòng thí nghiệm của nhà sản xuất đo độ nhớt 40 °C, chỉ số axit tổng (TAN), hàm lượng nước, đếm hạt và kim loại mài mòn. Khuyến nghị của phòng thí nghiệm (thay lọc, thay dầu, lấy mẫu lại) được chuyển cho nhà máy ngay khi có kết quả.
Trên máy 22 kW ở nhà máy nhựa, bốn mẫu từ 787 đến 4.859 giờ cho độ nhớt 44,6–49,9 mm²/s và TAN duy trì dưới 0,5 mg KOH/g: dầu vẫn trong dải ISO VG 46 và chưa có dấu hiệu oxy hoá đáng kể sau gần 5.000 giờ. Máy 75 kW ở nhà máy dệt chạy liên tục; mẫu phân tích cuối cùng ở 4.872 giờ có độ nhớt 49,5 mm²/s, TAN dưới 0,5 mg KOH/g, hàm lượng nước nhích lên và được xử lý bằng cách thay lọc theo khuyến nghị; máy chạy tiếp đến 7.612 giờ trên cùng lần nạp khi kết thúc theo dõi.
Phân tích dầu làm đúng việc của nó ở nhà máy xi măng: mẫu 2.100 giờ của một máy 55 kW có nước 779 ppm, canxi tăng và độ nhớt tăng ra ngoài dải ISO VG 46, dấu hiệu nước và bụi từ môi trường lọt vào dầu. Phòng thí nghiệm khuyến nghị xả các điểm thấp và thay dầu; nhà máy xử lý theo khuyến nghị, mẫu kế tiếp lấy ở 3.500 giờ máy (dầu sau khi thay) bình thường: 48,6 mm²/s, TAN dưới 0,5 mg KOH/g. Vấn đề được xử lý trước khi máy có biểu hiện bất thường.
Kết luận của Hợp Tiến: với máy nén khí trục vít chạy ở nhiệt độ đầu đẩy cao, CPI-9370-46 dùng được chu kỳ đến 4.000 giờ theo TDS và có thể kéo dài khi có phân tích dầu định kỳ; Hợp Tiến không khuyến nghị kéo dài chu kỳ nếu không lấy mẫu.
| Nhà máy · máy | Giờ dầu tại các lần lấy mẫu | Độ nhớt 40 °C, mm²/s | TAN, mg KOH/g | Ghi nhận |
|---|---|---|---|---|
| Ống nhựa · máy 22 kW | 787 · 2.600 · 3.025 · 4.859 | 44,6 · 47,0 · 48,4 · 49,9 | Dưới 0,5 ở mọi mẫu | Bình thường, trong dải ISO VG 46 |
| Xi măng · máy 55 kW | 500 · 2.100 · 3.500* | 48,2 · 62,8 · 48,6 | Dưới 0,5 ở mọi mẫu | 2.100 h: nước 779 ppm, canxi cao → xả điểm thấp, thay dầu. *3.500 h là giờ máy, dầu sau khi thay: bình thường |
| Dệt · máy 75 kW | 3.331 · 4.872 (máy chạy tiếp đến 7.612) | 48,9 · 49,5 | Dưới 0,5 ở mọi mẫu | 4.872 h: nước nhích lên, thay lọc theo khuyến nghị; không có mẫu sau mốc này |
Ba máy tiêu biểu trong sáu máy theo dõi (trích báo cáo phòng thí nghiệm của nhà sản xuất; TAN ghi theo ngưỡng, số liệu chi tiết cung cấp khi khách yêu cầu)



Số liệu trích từ báo cáo phân tích dầu của phòng thí nghiệm nhà sản xuất và biên bản lấy mẫu của Hợp Tiến. Bài viết lược bớt số liệu chi tiết; khách cần thì Hợp Tiến cung cấp số liệu và giải thích chi tiết sau. Tên nhà máy và hãng máy không nêu theo quy ước của Hợp Tiến.
Mục tiêu: nạp dầu máy nén lạnh amoniac CPI-1009-68 vào bốn máy nén trục vít NH₃ đã chạy 11.400–49.100 giờ mà không để dầu cũ lẫn cặn làm bẩn dầu mới. Cách làm: xả cụm nén và bình tách qua van xả dầu của máy, vệ sinh lọc, xả mọi điểm thấp cho đến khi dầu trong rồi mới bơm dầu mới; làm trong đợt bảo dưỡng, không tháo máy.
Đồng Tháp · 10/2016
Mục tiêu: trong một trạm nhiều máy, chọn dầu theo điều kiện và gốc dầu đang nạp của từng máy, và đổi dầu không để cặn cũ đi vào dầu mới. Máy 132 kW chạy nóng (màn hình đọc khoảng 96 °C khi khảo sát) đang dùng dầu gốc PAG của hãng khác, chuyển sang CPI-1522-46 gốc PAG/ester cùng họ; máy 200 kW chạy mát hơn dùng dầu PAO CPI-4601-46. Cả hai đều xả hết, vệ sinh bình tách, thay lõi tách và lọc trước khi nạp; Hợp Tiến khuyến nghị lấy mẫu phân tích sau 500 giờ.
Đồng Nai · 11/2018 – 08/2019
Mục tiêu: làm sạch cặn keo (varnish) trong máy nén khí trục vít 75 kW đã chạy nhiều năm và chuyển sang dầu máy nén khí đăng ký NSF H1 mà không dừng máy dài ngày. Cách làm: chạy dầu làm sạch CPI COMP CLEAN II (không phải dầu H1) trong sản xuất tối đa 500 giờ theo TDS cho cặn tan dần; xả hết, vệ sinh hệ thống và thay lọc theo khuyến nghị; rồi mới nạp dầu H1 CPI-4265-46F và theo dõi bằng phân tích dầu định kỳ theo lịch bảo trì của nhà máy.
Bình Dương (nay thuộc TP.HCM) · 03/2019
Mục tiêu: làm sạch cặn carbon trên xích và ray dẫn của máy căng kim 8 buồng trước khi chuyển sang dầu xích LUBCON TURMOFLUID 40 B, bằng một quy trình lặp lại được cho các máy còn lại: làm sạch cơ học, xịt dầu làm sạch LUBCON TURMOWOODOIL MKP Cleaner ở nhiệt độ làm việc của xích thành nhiều đợt, thổi khí nén, rồi đổi dầu. Kết quả đánh giá bằng quan sát (ảnh trước/sau) và nhận xét của tổ bảo trì.
Đồng Nai · 2017
Mục tiêu: có số liệu trên máy thật trước khi đổi mỡ: mỡ LUBCON giữ được bao lâu trên suốt máy ghép so với mỡ đang dùng, và loại mỡ nào phù hợp cho vòng bi trục chính máy sợi con (tốc độ cọc khoảng 19.500 vòng/phút) và bánh răng hở. Kết quả: trên suốt máy ghép, mỡ LUBCON còn bám sau ít nhất 18 ngày (thời điểm dừng thử) so với khoảng 9 ngày của mỡ đang dùng; bánh răng hở và vòng bi trục chính máy sợi con ổn định sau hai tuần theo quan sát.
Đồng bằng sông Cửu Long · 06/2017