Nhà phân phối được uỷ quyền tại Việt Nam: LUBRIZOL Fluid Engineering · LUBCON · FUCHS · CASSIDA · YAMAUCHI
☎ Hotline 0938 664 595 info@hoptien.vn VNEN
Trang chủ›Kiến thức›Kỹ thuật
Kỹ thuật · 15/09/2026 · Kỹ sư ứng dụng Hợp Tiến

Dầu máy nén amoniac bị cuốn theo môi chất: nguyên nhân và cách giảm

Dàn bay hơi mất hiệu suất, phải xả dầu liên tục: nguyên nhân thường nằm ở độ bay hơi và điểm đông đặc của dầu.

Ở nhà máy chế biến thuỷ sản, kho lạnh và nhà máy bia dùng hệ lạnh amoniac (NH₃), việc xả dầu ở bình chứa thấp áp, bình tách lỏng và dàn bay hơi là công việc hằng tuần của thợ vận hành. Bản thân việc xả dầu là bình thường. Điều không bình thường là khi lượng dầu phải châm bù cho máy nén tăng dần theo năm, dàn lạnh ngày càng khó giữ nhiệt độ và tổ vận hành bắt đầu 'quen' với việc đó như một đặc điểm của hệ thống. Bài này liệt kê những dấu hiệu Hợp Tiến gặp nhiều nhất khi khảo sát hệ lạnh amoniac, giải thích vì sao dầu đi theo môi chất, và hướng dẫn cách nhà máy tự đo trước khi quyết định làm gì.

Bảy dấu hiệu thường thấy ở nhà máy

  • Lượng dầu châm bù cho máy nén tăng dần theo tháng, trong khi lượng dầu xả ra ở các điểm thấp không tăng tương ứng: dầu đang 'biến mất' ở đâu đó trong hệ.
  • Dầu xả ra ở dàn bay hơi và bình chứa có màu đen, đặc, mùi khét, khác hẳn dầu mới trong thùng.
  • Dàn bay hơi lạnh không đều: một phần dàn đóng tuyết dày, phần khác gần như không; nhiệt độ buồng lạnh đạt chậm hơn trước dù máy nén chạy đủ.
  • Kính thăm dầu máy nén nổi bọt lúc khởi động, mức dầu dao động mạnh giữa lúc chạy và lúc dừng.
  • Nhiệt độ đầu đẩy máy nén cao hơn trước ở cùng điều kiện tải và nhiệt độ ngưng tụ.
  • Chênh áp qua bình tách dầu tăng nhanh sau mỗi lần thay lõi; lõi tách thay chưa lâu đã bão hoà.
  • Dầu xuất hiện ở những nơi lẽ ra không có: bình chứa cao áp, đường lỏng, thậm chí ở van tiết lưu.

Vì sao dầu đi theo môi chất

Dầu rời máy nén cùng khí đẩy theo hai cách. Cách thứ nhất là sương dầu, những giọt li ti bị khí cuốn theo; bình tách dầu được thiết kế để giữ phần này và giữ được rất tốt nếu lõi còn đúng thông số. Cách thứ hai là hơi dầu: ở nhiệt độ đầu đẩy, một phần dầu bay hơi, đi qua bình tách như khí và chỉ ngưng lại khi gặp bình ngưng và dàn lạnh. Bình tách tốt đến đâu cũng không giữ được hơi dầu, và lượng hơi này phụ thuộc vào hai thứ: bản chất dầu đang dùng và nhiệt độ đầu đẩy. Nhiệt độ đầu đẩy lại khác nhau theo kiểu máy: máy nén trục vít ngập dầu có dầu phun vào buồng nén làm mát nên đầu đẩy thường thấp hơn; máy nén piston không có dầu làm mát trong buồng nén nên đầu đẩy cao hơn rõ rệt và lượng hơi dầu cũng nhiều hơn tương ứng. Dải nhiệt độ bình thường của từng máy đọc ở sổ tay máy và nhật ký vận hành.

Amoniac tan rất ít trong dầu khoáng và dầu nặng hơn amoniac lỏng, nên dầu tới đâu lắng ở đáy đến đó. Ở nhiệt độ bay hơi âm sâu của hệ cấp đông và kho lạnh, dầu đặc lại; nếu bản chất dầu không phù hợp với nhiệt độ này, dầu bám vào thành ống thành một lớp cách nhiệt và không chảy về điểm xả nữa. Đó là lúc dàn lạnh mất hiệu suất dù thợ vẫn xả dầu đều đặn: dầu xả được là phần đã chảy về, phần bám trong dàn thì không.

Tạo bọt là một đường khác. Amoniac tan rất ít trong dầu khoáng, nhưng lượng tan được vào dầu trong cacte khi máy dừng ở áp suất cao vẫn đủ để sủi bọt khi giảm áp: lúc khởi động, áp suất giảm, amoniac bốc lên khỏi dầu và mang theo dầu thành bọt qua bình tách. Mức dầu quá cao và nước lẫn trong dầu làm hiện tượng này nặng hơn. Cuối cùng, dầu bị oxy hoá ở đầu đẩy nóng tạo thành cặn và dầu đen mà thợ thấy ở điểm xả; cặn này cũng làm lõi tách bão hoà sớm.

Cách kiểm tra tại nhà máy

Trước khi đổi bất cứ thứ gì, hãy đo, vì cùng một dấu hiệu có thể đến từ nguyên nhân khác nhau. Ghi theo từng máy nén lượng dầu châm bù và lượng dầu xả ở mọi điểm thấp mỗi tháng; chênh lệch giữa hai con số là dầu đang tồn trong hệ hoặc đã đi theo dạng hơi. Ghi nhiệt độ đầu đẩy và nhiệt độ dầu vào máy ở tải bình thường, so với hồ sơ của máy. Đo chênh áp qua bình tách và ghi ngày thay lõi. Lấy mẫu dầu trong cacte gửi phân tích: độ nhớt, hàm lượng nước và chỉ số axit của dầu đang chạy so với dầu mới cho biết dầu đã thay đổi thế nào trong máy. Cuối cùng, chụp ảnh dầu xả ở từng điểm với ngày tháng; màu và độ đặc của dầu xả nói nhiều điều mà số liệu chưa nói.

Với bộ số liệu này, kỹ sư có thể tách được ba nhóm nguyên nhân: dầu không phù hợp với điều kiện vận hành, hệ thống đang vận hành nóng hơn thiết kế, hay bình tách và quy trình xả dầu có vấn đề. Mỗi nhóm có cách xử lý khác nhau và chi phí khác nhau; đổi dầu chỉ đúng khi nguyên nhân thuộc nhóm thứ nhất.

Những việc nhà máy có thể làm ngay

  • Hạ nhiệt độ đầu đẩy: vệ sinh bình ngưng, kiểm tra bộ làm mát dầu và phun dầu, xem lại tỉ số nén sau khi tải thay đổi. Nhiệt độ đầu đẩy giảm vài độ đã giảm đáng kể lượng hơi dầu.
  • Bảo dưỡng bình tách dầu theo chênh áp chứ không theo lịch; ghi chênh áp vào sổ vận hành.
  • Giữ mức dầu đúng vạch; nếu máy tạo bọt khi khởi động, hỏi hãng máy về quy trình sấy cacte hoặc giảm áp từ từ.
  • Đặt lịch xả dầu ở các điểm thấp theo lượng dầu thực tế thu được và ghi lại để thấy xu hướng, thay vì xả theo thói quen.
  • Khi đổi loại dầu, xả sạch dầu cũ ở mọi điểm thấp và vệ sinh lọc dầu trước khi nạp dầu mới; nạp dầu mới lên nền dầu cũ làm mất phần lớn tác dụng. Cách Hợp Tiến làm việc này được mô tả trong bài Kết quả thực tế về chuyển đổi dầu cho bốn máy nén lạnh amoniac tại một nhà máy chế biến cá tra.
An toàn khi xả dầu hệ NH₃. Dầu xả ra luôn còn amoniac hoà tan và có thể còn áp. Chỉ xả qua bình xả dầu (oil pot) hoặc van xả theo quy trình của nhà máy, mở van từ từ, không xả thẳng ra chậu hở. Người xả đeo kính bảo hộ kín và găng chịu hoá chất; có nước rửa mắt và lối thoát trong tầm với; dầu xả thu vào thùng kín, để thoát hết amoniac ở nơi thoáng trước khi đậy nắp; điểm xả trong buồng kín làm việc hai người. Quy trình của nhà máy và hướng dẫn của hãng máy là căn cứ chính.

Còn việc chọn dầu

Dầu cho máy nén amoniac có nhiều nhóm gốc dầu với độ bay hơi, khả năng chảy ở nhiệt độ âm và độ bền nhiệt khác nhau; loại nào phù hợp phụ thuộc nhiệt độ bay hơi của hệ, nhiệt độ đầu đẩy thực tế, tuổi máy và cách nhà máy bảo trì bình tách. Không có câu trả lời chung cho mọi hệ lạnh, và tên dầu đang dùng không phải điểm xuất phát tốt. Điểm xuất phát tốt là bộ số liệu ở phần trên; kỹ sư Hợp Tiến làm việc với khách hàng từ bộ số liệu đó, đề xuất loại dầu và cách chuyển đổi, và thử trên một máy trước khi làm toàn hệ.

Đang phải châm dầu quá nhiều? Gửi model máy nén, nhiệt độ bay hơi, nhiệt độ đầu đẩy và lượng châm bù mỗi tháng, kỹ sư Hợp Tiến trả lời trong 24 giờ làm việc về nguyên nhân có thể và cách kiểm tra tiếp. Tìm dầu thay thế →

Tài liệu tham chiếu

  • TDS CPI-1009 và CPI-4600 Series (dầu máy nén lạnh amoniac và propylene): điểm đông đặc, độ bay hơi, độ nhớt theo nhiệt độ.
  • Sổ tay vận hành và bảo trì của hãng máy nén lạnh: dải nhiệt độ đầu đẩy cho phép, quy trình xả dầu và thay lõi tách.
  • Tài liệu hướng dẫn vận hành và an toàn hệ lạnh amoniac của IIAR (International Institute of Ammonia Refrigeration).
  • ASTM D445, ASTM D664, ASTM D6304 – phương pháp đo độ nhớt, chỉ số axit và hàm lượng nước dùng trong phân tích dầu.
  • Quy trình an toàn hoá chất và phương án ứng phó rò rỉ amoniac của chính nhà máy.

Bài viết mang tính tổng quát; điều kiện cụ thể của từng máy cần được kỹ sư đánh giá.

Bài liên quan

Gọi ngayBáo giá